8.BÍ ĐAO

Bí đao là loại thức ăn mát, bổ, rẻ tiền, rất thông dụng ở Việt Nam. Trong bí đao chứa nhiều nước, nhiệt lượng thấp, không có chất béo. Cứ 500 gam bí đao có chứa 8 gam đường, 1,5 gam anbumin, 61 mg vitamin C, một ít canxi, phốtpho, sắt, vitamin B1, B2…

Các nghiên cứu cho thấy hàm lượng natri trong bí đao rất thấp nên có tác dụng trị liệu tốt đối với những bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành tim, viêm thận, phù thũng, bệnh cao huyết áp và béo phì, ăn lâu dài có thể làm cho vóc người thanh thoát. Bí đao còn có tác dụng giải độc cá (cá nóc, tôm và các loại cá khác), rượu, làm giảm mỡ tích tụ trong cơ thể.

Cách dùng: Lấy bí đao tươi giã nát, vắt lấy nước, uống thật nhiều. Đối với người bị vết nám đen trên mặt, nước ép bí đao pha với mật ong, thoa lên mặt mỗi ngày sẽ giúp xóa dần vết nám. Với những người có sắc mặt nâu vàng: lấy 1kg bí đao gọt vỏ, thái miếng, trộn đều với 1,5 lít rượu gạo, 1 lít nước.

Sau đó nấu lên, lọc bỏ bã, tiếp tục nấu cô đặc thành kem, cho vào lọ dùng dần như kem dưỡng vào buổi tối. Khi da bị đen sạm, lấy bí đao rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt, ép lấy nước uống hoặc đắp ngoài da.

(Theo Tuổi Trẻ)

Chữa sạm da theo Đông y

Chị em phụ nữ nào mà chẳng may bị sạm da, thâm da thì rất khổ tâm vì nó ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ. Bệnh sạm da hiện nay có khá nhiều người mắc, nguyên nhân của nó rất phức tạp.

Những nguyên nhân gây sạm da

Bệnh sạm da toàn bộ: Hay thấy ở người mắc bệnh nội tiết, rối loạn nội tiết, ở người bị sốt rét, lao, nhiễm độc thạch tín… trong đó phải kể đến:

Bệnh Addison: Bệnh làm da thâm lại ở núm vú, nách, bộ phận sinh dục, lòng bàn tay, cổ tay, cổ chân, thậm chí cả ở niêm mạc miệng, phía trong môi lợi răng. Khởi đầu vết thâm lan rộng rồi nối liền với nhau, tạo thành một màu nâu thẫm đều, ngoài ra bệnh nhân còn mệt mỏi, gầy, hạ huyết áp, nôn và buồn nôn, nguyên nhân thường do lao vỏ tuyến thượng thận.

Thâm da do cường tuyến giáp trạng: Thâm da ở toàn bộ thân thể, có khi cả đồng tử bệnh nhân cũng bị đen.

Thâm da do nhiễm chất thạch tín: Thể hiện là những chấm thâm trên khắp cơ thể người bệnh. Những người dùng thuốc Quinin, thuốc sunphamit, pyramidon, antipyrin, thuốc ngủ lâu ngày cũng có thể bị.

Bênh sạm da khu trú

Tàn nhang: Bệnh có tính chất gia đình, có trường hợp trong một gia đình có nhiều người bị, phụ nữ da trắng mỏng mịn hay có tàn nhang. Biểu hiện lâm sàng là những vết sắc tố nhỏ bằng đầu đinh ghim, riêng lẻ hoặc liên kết với nhau, hình tròn, màu nâu sáng hoặc nâu sẫm, bờ rõ, không đều, vị trí chủ yếu khu trú ở hai bên mũi và má. Mùa hè số lượng, cường độ của vết tàn nhang tăng lên rõ rệt, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe chung.

Rám da: Biểu hiện bằng những vết thâm màu hơi vàng đều, hoặc hơi nâu, có giới hạn rõ rằng, kích thước không nhất định ở mặt, trán, má… và đối xứng qua hai bên mặt. Thường gặp ở phụ nữ có thai, bắt đầu từ tháng thứ hai, hết sau khi đẻ, có trường hợp kéo dài, còn gặp ở phụ nữ có bệnh phụ khoa mạn tính như viêm tử cung, viêm phần phụ. Phụ nữ mãn kinh cũng có thể bị rám da. Rám da còn có thể gặp ở nam giới bị các bệnh về gan, giun sán, nội tiết, sốt rét…

Sạm da nhiễm độc: Có thể do thức ăn, thuốc hoặc các chất dầu mỡ, than đá, chất màu tiếp xúc trong công nghiệp. Các chất đó thấm qua da hoặc vào cơ thể qua đường tiêu hóa hô hấp làm tăng cảm ứng da đối với ánh sáng ở phần da hở và da vùng đó càng ngày càng sạm, có thể kèm theo dãn và teo da nhẹ, da hình mạng lưới. Toàn trạng có thể bị ảnh hưởng như mệt mỏi, ăn không ngon, nhức đầu, thị lực giảm…

Một số bài thuốc chữa sạm da

Việc chữa trị sạm da rất lâu dài và khó khăn, tùy theo nguyên nhân mà điều trị. Nếu do hóa chất như dầu mỡ, than đá thì không nên tiếp xúc nữa, còn khi xác định được nguyên nhân gây sạm da bệnh toàn thân nào đó thì điều trị theo nguyên nhân. Tuy nhiên y học cổ truyền có một số bài thuốc chữa sạm da như sau:

Bài 1: Sinh địa 20g, sơn thù nhục 10g, nữ trinh tử 30g, hạ niên thảo 20g, thổ phục linh 30g, trư linh 20g, hàng tinh 30g, đương quy 20g,tần giao 10g, đan sâm 15g, phòng phong 15g, bồ công anh 30g, sắc uống.

Bài 2: Nhân sâm 30g, phục linh 15g, bạch truật 12g, đương quy 20g, xuyên khung 12g, xích thược 20g, bạch truật 15g, sinh địa 20g, khổ sâm 15g, bạch hoa xà, thiệt thảo 50g, bối mẫu 10g, thiên hoa phấn 30g, tạo giác thích 10g, hoàng kỳ 30g, sắc uống.

Bài 3: Sơn thù du 40g, phá cố chỉ 180g, mộc hương 75g, thỏ ty tử 180g, nhụy hoa sen 40g, bạch phục linh 75g, hồ đào nhân 300g. Hồ đào nhân nghiền nát, thỏ ty tử ngâm trong rượu ba đêm, sau đó sấy khô, rồi đem tất cả các vị thuốc đó tán mịn, trộn đều với mật luyện, vo thành viên cỡ hạt ngô cho vào lọ kín dùng dần, mỗi ngày uống 70 viên với rượu ấm lúc bụng đói, ngày dùng một lần.

Bài 4: Thục địa 500g, cam cúc hoa 500g, thiên môn đông (củ thiên môn) 500g. Trước tiên đem sấy khô thiên môn đông, sau đó đem tất cả ba vị trên giã thành bột, rồi cho vào bình kín dùng dần, mỗi lần uống 12g bột thuốc hòa với rượu ấm, dùng lúc đói, ngày uống một lần.

Bài 5: Phá cố chỉ 150g, đỗ trọng 150g, tì giải 50g, hồ đào nhân 150g. Đem ba vị thuốc phá cố chỉ, đỗ trọng, tì giải giã nát, sấy qua nghiền thành bột mịn. Hồ đào nhân giã thành dạng cao, cho bột thuốc hỗn hợp vào quấy đều rồi giã cho nhuyễn, vo thành viên to bằng hạt ngô, bỏ vào lọ kín dùng dần. Mỗi lần uống 30-50 viên với rượu ấm hoặc với nước muối nhạt lúc đói bụng, ngày một lần.

(Theo Sức Khỏe Đời Sống

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s